Tuổi thọ doanh nghiệp là một trong những tiêu chí quan trọng giúp đánh giá uy tín cũng như năng lực của doanh nghiệp, là bàn đạp giúp doanh nghiệp phát triển trong nước cũng như quốc tế. Kinh nghiệm thế giới cho thấy, kể cả đối với những doanh nghiệp có tầm vóc, thì chỉ có sự khác biệt, nhạy bén và nhanh chóng thích nghi với hoàn cảnh kinh tế cũng như nhu cầu thị trường mới có thể giúp doanh nghiệp tồn tại bền vững và lâu dài.

Các doanh nghiệp trên thế giới có xu thế giảm tuổi thọ

Xu thế thế giới hiện nay đang chứng kiến sự rút ngắn vòng đời đáng kể của các doanh nghiệp. Sự ra đời và phát triển của các công nghệ mới đang khiến các công ty lâu đời ngày càng tiến sát bờ vực bị thải loại nhanh hơn.

Ngay tại Mỹ, các báo cáo thống kê cho thấy độ tuổi trung bình của các doanh nghiệp đã giảm từ gần 60 tuổi trong những năm 1950 xuống con số 20 ở thời điểm hiện tại. Tuổi thọ của top Fortune 500 công ty lớn nhất hiện nay tại Mỹ là từ 40 đến 50 tuổi. Đặc biệt, gần 50% công ty thuộc top Fortune 500 vào năm 1999 đã biến mất chỉ 10 năm sau đó. Các công ty này đã bị mua lại, sát nhập hoặc chia tách thành các công ty khác.

Nguyên nhân phổ biến đầu tiên khiến các công ty này không tồn tại được lâu, chính là do không thích ứng được với sự thay đổi về công nghệ và nhu cầu của thị trường. Một số ví dụ có thể kể đến là hãng máy ảnh Eastman Kodak và chuỗi bán băng đĩa Blockbuster… khi chứng kiến sự vươn lên chiếm lĩnh thị trường của các thiết bị chụp ảnh số và dịch vụ xem phim trực tuyến Netflix, đã không thể thay đổi kịp thời và thậm chí phá sản. Điều này càng dễ xảy ra trong giai đoạn hiện nay, khi sự phát triển vũ bão của công nghệ luôn tiềm ẩn khả năng làm thay đổi bộ mặt của bất cứ ngành nghề nào, từ đó khiến các doanh nghiệp lâu đời luôn phải dành nguồn lực để phát triển các mô hình và công nghệ mới. Ngoài ra, các biến động ngày càng thất thường của kinh tế thế giới nói chung cũng gây ra những tác động không nhỏ với kể cả các doanh nghiệp trăm tuổi.

Cuộc khủng hoảng tài chính bùng phát tại Mỹ năm 2008, đã chứng kiến hàng loạt doanh nghiệp lâu đời lâm vào cảnh khủng hoảng. Sự đổ vỡ liên hoàn của các định chế tài chính tham gia cho vay dưới chuẩn đã khiến Ngân hàng 158 năm tuổi Lehman Brothers lớn thứ 4 nước Mỹ bị phá sản và kéo theo cơn khủng hoảng chung không chỉ tại Mỹ mà còn lan ra nhiều khu vực trên thế giới. Iceland là quốc gia đầu tiên có nguy cơ phá sản trên quy mô quốc gia. Chính phủ Iceland đã phải đóng cửa thị trường chứng khoán và quốc hữu hóa những ngân hàng hàng đầu. Nhiều nền kinh tế lớn như Mỹ, Nhật, Nga và EU đều tuyên bố rơi vào suy thoái.

Các doanh nghiệp xe hơi hàng đầu tại Mỹ như Ford, General Motors và Chrysler đều suýt bị phá sản khi doanh số bán xe xuống mức thấp kỷ lục trong suốt 25 năm… chỉ là một trong những ví dụ về những doanh nghiệp lâu đời trên thế giới bị cơn bão khủng hoảng tài chính làm cho tơi tả. Tại Nhật Bản, kinh nghiệm để các công ty nhỏ có thể tồn tại lâu dài nằm ở hai yếu tố: lựa chọn đúng các nhóm ngành gần như không bao giờ lỗi thời, và luôn luôn lựa chọn người kế nhiệm dựa trên năng lực, đam mê của họ chứ không chỉ lựa chọn người kế nghiệp là con cháu. Các công ty lâu đời tại Nhật Bản cũng thường liên quan đến những lĩnh vực như ăn uống, vận chuyển, xây dựng. Một số ví dụ có thể kể đến như: khách sạn Nisiyama Onsen Keiunkan tại Nhật Bản, đi vào hoạt động từ năm 705 và được truyền qua tổng cộng 52 thế hệ; hay nhà sản xuất bia Sudohonke có tuổi đời hơn 900 năm, v.v… Sự giúp sức của chính phủ đối với những công ty khó khăn cũng là động lực lớn giúp các doanh nghiệp duy trì được sự tồn tại. Trước khi Luật phá sản được chính phủ thông qua vào năm 2000, hầu như chỉ có những doanh nghiệp không thể đề xuất kế hoạch thay đổi mới không thể vay tiền từ ngân hàng.

Tuy nhiên đến nay, không chỉ chính sách của chính phủ thay đổi, mà ngay cả thị hiếu của giới trẻ Nhật Bản cũng đã thay đổi rất nhiều và kéo theo đó là sự thoái trào của nhiều ngành nghề kinh doanh truyền thống. Đối với các tập đoàn lớn của Nhật Bản, bức tranh cũng đang xám đi trông thấy. Ngay cả các công ty từng thống trị ngành công nghiệp điện tử cũng đang bỏ lỡ các xu hướng lớn như sự bùng nổ của điện thoại thông minh và sa lầy vào nhiều quyết định không mang lại lợi nhuận cũng như các bê bối kế toán. Ví dụ như Toshiba, doanh nghiệp tiên phong trong mảng máy tính xách tay và linh kiện điện tử, đã chật vật trong phát triển lĩnh vực thế mạnh này và quay sang đầu tư vào doanh nghiệp điện hạt nhân khi mua lại công ty Westinghouse Electric của Mỹ.

Đến năm 2015, công ty đã lâm vào bê bối kế toán lớn và đến 2017, Westinghouse đã nộp đơn xin phá sản, Toshiba đã phải bán đi mảng kinh doanh chip nhớ và các tài sản khác chỉ để duy trì hoạt động. Hay Sharp, doanh nghiệp có bề dày trong sản xuất tấm nền hiển thị LCD, đã phải tuyên bố thua lỗ lớn và phải bán mình cho nhà sản xuất điện tử Đài Loan Foxconn vào năm 2016. Bên cạnh đó, ngành công nghiệp ô tô của Nhật Bản cũng liên tục đón nhận nhiều tin xấu trong thời gian qua. Các doanh nghiệp lâu đời của Nhật như Honda, Nissan, Toyota hay Mazda đã quá tập trung vào chiến lược phát triển hệ truyền động tốt hơn – yếu tố giúp các hãng ô tô Nhật Bản chiếm được thị phần toàn cầu nhờ tính tiết kiệm nhiên liệu và bảo vệ môi trường, mà bỏ quên và đang trở nên tụt hậu trong lĩnh vực xe tự lái và các công nghệ kỹ thuật số khác. Bài toán linh kiện đối với các công ty ô tô của Nhật đang và sẽ trở nên gay gắt hơn nữa khi các công ty liên tục phải nhập khẩu các linh kiện này từ nước ngoài cho sản phẩm của mình.

Một ví dụ đơn cử cho những doanh nghiệp lớn lâu năm đã tìm được hướng đi mới thành công nhằm vượt qua giai đoạn khủng hoảng, có thể kể đến Sony. Từng rất nổi tiếng và thành công với dòng máy nghe nhạc Walkman từ những năm 80 của thế kỉ trước, Sony đã phát triển thương hiệu của mình trong nhiều mặt hàng điện tử như tivi, máy ảnh, điện thoại thông minh, điện tử gia dụng cho đến máy chơi game và cả sản xuất phim điện ảnh. Song hiện nay, các mảng kinh doanh cốt lõi của doanh nghiệp là máy nghe nhạc, tivi và điện thoại di động lại cho thấy sự suy giảm đáng kể thị phần trước các đối thủ đến từ Mỹ, Hàn Quốc và Trung Quốc, khiến doanh nghiệp liên tục thua lỗ và phải thực hiện tái cấu trúc các mảng kinh doanh. Việc tái cấu trúc đã giúp Sony hạn chế bớt được tác động của các mảng kinh doanh thua lỗ, tập trung thu được lợi nhuận lớn từ việc phát triển các lĩnh vực mà hãng có lợi thế cạnh tranh, như cảm biến máy ảnh, hệ máy chơi game gia đình PlayStation, cùng mảng phát nhạc trực tuyến và hãng phim Sony Picture. Nhờ vậy, giới đầu tư đã dần lấy lại niềm tin và góp phần kéo giá cổ phiếu của Sony tăng trở lại.

Tuổi thọ của các doanh nghiệp tương đối thấp

Tại Việt Nam, các công ty lâu đời nhất hiện được thống kê có thể kể đến là Cảng Sài Gòn và Cảng Hải Phòng, được người Pháp thành lập vào khoảng năm 1863 và 1876. Kế đến là Habeco với tiền thân là Nhà máy bia Hommel được thành lập năm 1890 và Halico với tiền thân là Nhà máy rượu Hà Nội do Hãng rượu Fontaine của Pháp xây dựng từ năm 1898. Một số thương hiệu lâu đời khác cũng có tuổi đời hơn 100 trăm năm tuổi là Sabeco (1875), Xi măng Hải Phòng (1899), Bia Laurue (1909), nước khoáng Vĩnh Hảo (1928)… Đây hầu như là các doanh nghiệp được thành lập có yếu tố nước ngoài, nên được thừa hưởng phần nào cách quản lý của phương Tây.

Từ năm 1986, công cuộc đổi mới với trọng tâm là cơ chế kinh tế thị trường đã tạo tiền đề cho sự xuất hiện của nhiều công ty tư nhân tại Việt Nam, đóng góp cùng nhiều thành phần kinh tế ngoài quốc doanh khác gần 50% GDP của cả nước. Tuy nhiên, hiện nay tuổi thọ trung bình của các doanh nghiệp Việt tương đối thấp. Trong 6 tháng đầu năm 2019 có 50.780 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường (tăng 18,4% so với cùng kì 2018), con số này bao gồm các doanh nghiệp đăng kí tạm ngừng kinh doanh có thời hạn; doanh nghiệp chờ giải thể, doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể. Trung bình mỗi tháng có 8.463 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Các doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động thường nhằm tái cơ cấu danh mục đầu tư và nhiều công ty trong số đó sẽ quay trở lại sau thời gian tạm ngừng kinh doanh. Lĩnh vực có tỷ lệ doanh nghiệp đăng kí tạm ngừng kinh doanh cao nhất là kinh doanh bất động sản, tài chính, ngân hàng và bảo hiểm, sản xuất, phân phối điện, nước, gas. Các doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể đa phần nằm trong các lĩnh vực như bán buôn; bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy; công nghiệp chế biến, chế tạo hay xây dựng.

Bên cạnh một số nguyên nhân khiến doanh nghiệp “chết trẻ” như: các startup thường dễ thất bại, chuẩn bị vốn không tốt, không nghiên cứu kỹ và lường trước rủi ro từ thị trường, thiếu kinh nghiệm lãnh đạo và đưa ra quyết định, marketing không bài bản, v.v… thì còn có một số lý do khá đặc thù như các doanh nghiệp trong nước thường ít nhận được ưu đãi so với các doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nhà nước. Một số doanh nghiệp cho biết bản thân bị làm khó bởi thủ tục hành chính, thanh tra, kiểm tra, nhũng nhiễu… phần nào cho thấy yếu tố minh bạch và cơ chế quản lý còn thiếu tính hỗ trợ cho doanh nghiệp phát triển.

Một điều đáng buồn khác là bên cạnh việc các doanh nghiệp khó tồn tại lâu, thì nhiều doanh nghiệp sau khi đã xây dựng được thương hiệu trong lòng người tiêu dùng, lại liên tục bán mình cho các công ty nước ngoài. Thương hiệu bánh kẹo nổi tiếng Kinh Đô đã chính thức chuyển thành doanh nghiệp 100% vốn ngoại khi bán toàn bộ cổ phần cho Mondelez International của Singapore vào năm 2016. Đức Việt cũng đã bán mình cho tập đoàn thực phẩm Hàn Quốc Daesang Corp với giá 32 triệu USD. Ở mảng bán lẻ, nhiều siêu thị như Fivimart, Citimart, BigC,…. về tay doanh nghiệp ngoại đã cho thấy thực tế thị phần trong nước liên tục bị các doanh nghiệp ngoại thâu tóm.

Lý giải cho điều này, có thể họ muốn dừng lại để thu lợi nhuận, đầu tư sang ngành khác, nhưng còn một lý do khác nghiêm trọng hơn là việc doanh nghiệp thiếu niềm tin để đầu tư kinh doanh tiếp. Đây là một thực tế khá đáng buồn, đòi hỏi chính phủ và các cơ quan liên quan có sự tìm hiểu sâu hơn nữa để có thể duy trì và cổ vũ tinh thần kinh doanh cho các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các công ty tư nhân hay công ty gia đình.

Đâu là giải pháp?

Trong thời đại phức tạp và biến chuyển không ngừng hiện nay, doanh nghiệp cần cân bằng giữa các mục tiêu ngắn hạn và đảm bảo được các chiến lược dài hạn của mình nhằm thích ứng và tồn tại lâu dài. Có ba yếu tố tối quan trọng mà người lãnh đạo doanh nghiệp cần luôn nắm bắt.

Một là phải có tầm nhìn chiến lược đúng đắn, không chỉ xác định nhu cầu khách hàng trong tương lai, mà còn phải xác định được mức độ và phạm vi các thay đổi cũng như thiết kế lại quy trình nội bộ của doanh nghiệp mình. Thứ hai, khâu thực thi kế hoạch là khâu khó khăn nhất khi công ty thực hiện chuyển đổi. Nhiều doanh nghiệp đã thất bại khi không lường trước được mức độ tái cấu trúc mô hình hoạt động của bản thân cho phù hợp với điều kiện mới. Thứ ba, bản thân các nhà lãnh đạo không được phép ngủ quên trên chiến thắng hoặc bám víu quá lâu vào những thành công trong quá khứ. Việc tái cấu trúc doanh nghiệp để phù hợp với điều kiện mới phải được coi là quá trình kéo dài liên tục không ngừng nghỉ. Chỉ khi liên tục thay đổi, doanh nghiệp mới có thể duy trì vị thế đi trước đối thủ và đáp ứng được nhu cầu thị trường. Chính tư duy duy trì hiện trạng là kẻ thù nguy hiểm nhất với bất kỳ doanh nghiệp nào.

Về phía chính phủ, cần phải có cơ chế, chính sách thuận lợi, thông thoáng nhằm cổ vũ tinh thần dân tộc, tinh thần khởi nghiệp, ý chí bền bỉ và cả sự yên tâm cho doanh nghiệp tư nhân phát triển. Có như vậy, tuổi thọ bình quân của doanh nghiệp trong nước mới được cải thiện và giúp Việt Nam có thêm nhiều thương hiệu mạnh, sánh vai với các nước trên thế giới.

Nguồn: doanhnghiephoinhap.vn